Xóm cũ. Hai tiếng ấy khiến lòng dịu lại, lênh đênh trên con thuyền chắp vá từ nhiều mảnh ký ức để trôi về một dòng chảy.
Tôi về nơi ấy, bình yên.
Từ bờ kinh nhà ngoại, có một ngã đường dẫn xóm. Ai chưa từng đến rất dễ lạc giữa cái mê cung này. Nó lắm lối rẽ, chia ra rồi hợp lại tựa bao mảnh đời nó e ấp bên trong mình. Những con hẻm tinh nghịch sẽ dẫn khách lạ đi dọc những khu vườn sai trĩu quả. Cơn nắng trưa gắt gỏng dịu dần ngã xuyên qua tán lá. Vàng vàng, pha xanh um rồi cả thảy quyện vào làn khói bếp tràn trề khắp nơi làm cảnh vật ngỡ như chốn địa đàng. Mấy con mương nhỏ liên thông nhau tạo thành hệ thống nhiều liếp đất vuông vức, hực mùi cỏ dại lẫn vào hơi nước từ vườn ai.
Người nông dân chợt ngó qua vị khách, trước khi quay lại tỉa một cành cây dở. Xóm tự khoe vẻ đẹp của mình.
Nhà tôi ở đó. Những năm đầu đời, tôi là đứa nhóc ngụp lặn dưới vòm cây, reo vang thấy hạt mầm mình tự gieo đã đâm chồi, lần đầu nó leo lên ngọn cây nhìn ra thế giới, lần đầu nó gặp một đứa bạn cùng tuổi.
Đúng là hồi ấy, Chợ Lách vẫn còn là vương quốc trái cây.
Ở xóm làm vườn, gia đình tôi cũng trồng nhiều cây ăn quả. Có hồi nhà trồng quýt, loài thực vật có gai nhọn hoắc, dài cỡ nửa bàn tay nhỏ bé của tôi. Tôi thích trèo hái quýt, thi thoảng té từ trên cây xuống, tôi cầm máu bằng cách cuộn vết thương vào áo, lúc bỏ ra cái áo trắng loe một vùng sẫm màu. Nhà chuyển sang trồng mận, trên những cành mận sai quả mới vào mùa, đỏ au, chim chóc kéo đến rỉa, kêu ríu rít. Tôi rủ mấy đứa bạn nhặt cỏ khô kết thành một thứ giống tổ chim, trèo đặt lên cây. “Chim lại ăn mận, thấy tổ, chim vào ở và đẻ trứng, mình sẽ hốt cả tổ!”. Cả bọn quả quyết như vậy (rõ xem thường trí tuệ loài chim!).
Giữa xóm là một vườn chôm chôm lâu năm do bà ngoại chăm sóc, đến mùa chúng bùng rộ những chùm trái chín vàng đỏ làm bọn trẻ hết sức thèm thuồng. Thèm lắm. Những phi vụ trộm chôm chôm diễn ra ngọt ngào và trót lọt. Đến một ngày, khi tôi và anh trai mình đang hí hửng ngồi trên một cành cây to thưởng thức thứ quả quyến rũ thì, rầm…, cành gãy gục, oai hùng đổ ngang mương hất chúng tôi xuống. Hai đứa chạy loạn. Chiều ấy, thăm vườn về, bà ghé ánh mắt sâu thẳm nhìn tôi: “Mày làm gãy nhánh chôm chôm của tao phải hem?” Bà chìa ra những chùm trái đỏ ướt sũng còn hôi bùn mương. Tôi chỉ biết nhe răng cười.

Ký ức ấy thường có người dân xóm cũ – nhà nông thứ thiệt. Thân hình chắc nịch, áo vải, nón tai bèo che tấm da cháy nắng, giọng đặc sệt miền Tây. Những chú bác khoác nụ cười hiền như đất, ánh mắt chứa lo toang và nghị lực chắc ngang ngửa nhau. Họ biết làm, chịu làm mọi thứ cho khu vườn. Từ lội mương móc bùn, đắp mô trồng cây, đậy mủ xiết nước, tưới nước đến bọc quả khỏi bị sâu … Người bám đất, đất thương kẻ khó nhọc mà nuôi cây. Có được quả ngọt trao đời là biết bao mồ hôi nước mắt. Một năm trúng vụ khiến nhà vườn vỡ òa, có tiền lo con đi học còn dư sửa lại căn nhà đón Tết. Rồi trở lại mùa sau. Vòng lặp ấy làm người, đất và cây gắn bó. Không hiểu sao những người giỏi giang ấy lại bảo tôi, “mày ráng học đàng hoàng để thôi làm vườn chết!”
Nhớ lúc họ quây quần trong buổi nhậu. Nông dân ai cũng biết uống như một dịp để gắn bó xóm giềng. Vừa dựng nhà, thôi nôi đứa con, dịp thu hoạch, từ khắp xóm họ tụ tập về. Không con vật nào loanh quanh vườn thoát khỏi mâm đâu. Với một cặp gà thả vườn, con này nướng muối ớt, con kia làm nồi cháo. Bẫy được đàn chuột đào hang phá phách là nướng hết. Đặt lợp dính lươn, rắn, cá lóc, cua,… họ biết con nào phải chế biến sao cho ngon-nhứt-nách, con này xào lá cách, con kia xào sả, hoặc nướng.
Cuộc vui kéo dài tới nửa đêm, ngà say dưới vầng trăng ơ hờ, có ông bác lấy đàn ghita gảy dạo một khúc bô-lé-rô nghe réo rắc. Mấy ông kia hứng lên hát vang, khoái chí gõ chén đũa, lúc lạc nhịp, lúc lệch tông, vậy là thành một bản hợp ca của riêng nhà nông. Người ta gắn bó nhau cả trong cơ cực và cuộc vui với men đời. Dẫu có người mãi không thoát thể khỏi cuộc chơi ấy. Hôm nào họ cũng say khướt, chiều tỉnh dậy mới loạng choạng ra thăm vườn.
Quay về với lũ trẻ, chúng vẫn rong ruổi khắp xóm, góp nhặt buồn vui qua háo hức và mấy lần giận dỗi.
Chúng tôi (thường có tôi, T và N) chọi cá thia, bắn bi, bắt dế, rủ nhau ra bờ kinh bơi. Đánh nhau là vui nhất. Làm vũ khí từ nhành cây, ống nước nhựa và đĩa CD cũ, bọn trẻ chia phe chiến đấu nhau. Tiếng cười giỡn, la hét inh ỏi cái xóm chiều.
Nhưng tôi luôn kiểm soát cuộc chơi không đi quá xa. Mẹ dặn không đi vượt qua một gốc dừa nọ. Mãi sau này tôi mới biết, đó là nơi cuối cùng tôi nghe được tiếng gọi của mẹ gọi về ăn tối, lúc tôi phải bỏ lại những viên bi lấp lánh mà chạy về. Có những hôm mãi mê với trận đá cá thia dở, trời nhá nhem tối, mẹ tay cầm cơm, tay cầm roi tìm tôi khắp nơi. Và chắc bà ấy vẫn cứ dõi theo tôi suốt cuộc đời.
Hay bị mẹ la rầy nên khi thấy điều gì đó lạ lẫm tôi thích hỏi cha hơn, dù thường chỉ nhận được câu, tại nó như vậy đó. Thở dài, chợt nhớ mấy lần leo lên tít ngọn cây, bầu trời mở ra một không gian mới. Kìa! Những mảnh vườn trùng trùng sâu hút mắt, xa kia lấp ló một khúc sông lớn nơi tôi chưa từng đặt chân. Và mấy người khách xa lạ thi thoảng đi ngang nhà nữa. “Rốt cục thế giới này còn bao điều con chưa biết?”-Tôi hỏi người.
Khi lớn lên và được đi xa cho thỏa mong ước thời bé dại, lũ trẻ đều không biết rằng chúng vừa rời bến sông bình yên nhất cuộc đời. “Tao sợ ở thành phố lâu quá cái chán quê, quên hết chuyện xưa…”, thằng bạn kể. Tôi cười lắc đầu, dẫu buồn vui, ta không thể quên đi ký ức đã ngấm vào tim mình.
Nhưng rồi tôi cũng lo.
Buổi trưa nọ, ngoại bị ngã nặng lúc đi thăm vườn. Bà xuống sức từ đó, bắt đầu với chiếc xe lăn và những cơn lẫn trí.
Nhiều năm sau, ngoại mất. Tang xong, mẹ bảo vậy là xóm mình hết người già rồi đó. Mẹ chỉ bâng quơ mà buồn. Lại một người giữ gìn tuổi thơ tôi ra đi. Yêu thương chúng tôi. Gió cuốn họ về bên kia bầu trời, nơi cội nguồn thứ ánh sáng rọi xuống những tán cây hiền hòa, khu vườn của họ. Cứ vậy, một thế hệ dần từ giã xóm làng.
Xóm đang thay áo. Khác và rất khác hồi xưa.
Hòa vào làn sóng hiện đại, nhà nông tập làm con buôn. Một bộ phận, trẻ hoặc đã có tuổi nhưng ít đất vườn, đã bỏ vào khu công nghiệp. Người bám đất ít dần. Những người thông minh dần nhận ra giá hoa quả có thể lên xuống thất thường, nhưng đất thì cứ tăng giá, nên họ tích trữ, gạ gẫm, vẽ tô dự án, xẻ lô xẻ nền một miền quê hương (của họ hoặc của ai khác). “Mình không làm thì cũng có người khác làm.” “Làm vườn cực khổ biết bao giờ được nhiêu đó tiền? Tao nghèo hoài gia đình tao ai nuôi.”
Người con của đất quay lưng với đất. Vậy là vườn cây dần ngã gục để nhường công trình mọc lên. Các mảnh đất còn lại được rào kín, dư thuốc hóa học đổ ra mương ngòi tận diệt từng loài cá, cua. Có bạn nghĩ ra cách quay hình ảnh xóm đưa lên mạng, nhặt nhạnh chút quê mùa bỏ sót. Cũng tốt, vì thật khó để thế hệ sau này hiểu được quê hương chúng đã đẹp đẽ và hiền hòa như thế nào. Trẻ con nông thôn mới, chúng gắn chặt với chiếc điện thoại kỳ diệu mà ít chơi với nhau. Chắc hẳn điều đó tác động lớn lắm, vì con nít bây giờ thiếu sự trải nghiệm vất vả, nên thừa tự tin, lanh lợi và mơ hồ, chúng sớm hiểu hết những kí hiệu nhạy cảm của người lớn, thành thạo những thành tựu công nghệ, ngấm chìm trong các thuật toán độc hại, hay mối hiểm họa vô hình mà bản thân chúng hoặc bố mẹ chẳng ý thức được. Lũ trẻ cũ thì đang ở xa lắm.
Chúng tôi đi thật xa, phai nhạt dần kỷ niệm để đuổi bắt điều gì? Ai đó đang rượt đuổi? Một lời hẹn với chân trời? Vài cơn hào nhoáng từ khát vọng đôi mươi? Hay chỉ vì ai đã nói, rằng mày ráng kiếm cái việc để khỏi chân lấm tay bùn! Giữa chuyến phiêu lưu miên man và bất định, đôi khi miền đất ấy hiện về giấc mơ, sợ người đi quên đất quên luôn cả người. Bất chợt, tôi đứng giữa con hẻm vắt qua một khu vườn xanh um, vài đứa nhóc chạy xuyên qua tôi như vô hình, một thằng bé gầy nhom, dừng chân, nó chỉ tay về tôi cười khằng khặc. Xóm cũ.
Năm 2018